Trang chủ

Giới thiệu khái quát

Lịch sử hình thành và phát triển của phường Máy Chai
Ngày đăng 04/11/2015 | 01:28 | Lượt xem: 327

Xưa kia thuộc làng Gia Viên - một trong những làng cổ được hình thành từ rất sớm, có vị trí trọng yếu ở cửa biển Bạch Đằng, trải qua hằng ngàn năm hình thành và phát triển, Máy Chai còn giữ được nhiều nét văn hóa cổ truyền, ghi dấu nhiều chứng tích lịch sử trong các cuộc đấu tranh dựng nước và giữ nước.

Năm 1981, phường Máy Chai được thành lập theo Quyết định số 83/QĐ-TCCQ của UBND thành phố, phía Đông giáp phường Vạn Mỹ, phía tây giáp phường Máy Tơ; phía nam giáp phường Cầu Tre, Lạc Viên; phía bắc có chiều dài tiếp giáp sông Cấm khoảng 3 km. Từ khi thành lập đến nay, sau hơn 30 năm phấn đấu, xây dựng và trưởng thành, với 9 nhiệm kì đại hội, Đảng bộ và nhân dân phường Máy Chai đã nỗ lực vượt khó, đưa Máy Chai từ nghèo nàn, lạc hậu vươn lên thành một phường có kinh tế, văn hóa phát triển, quốc phòng, an ninh vững mạnh, đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân ngày càng khởi sắc.

*) Vài nét về lịch sử hình thành mảnh đất, con người Máy Chai

Phường Máy Chai là khu công nghiệp phía Đông của thành phố Hải Phòng, diện tích 237,23ha, dân số khoảng 19.000 người (tính đến 01/0/2012), gồm 5.100 hộ chia thành 36 tổ dân phố, có vị trí quan trọng về chính trị, kinh tế - xã hội, quốc phòng – an ninh. Phường Máy Chai nằm ở phía Đông Bắc quận Ngô Quyền; phía Đông giáo phường Vạn Mỹ; phía tây giáp phường Máy Tơ; phía Nam giáp phường Cầu Tre, Lạc Viên; phía Bắc có chiều dài tiếp giáp sông Cấm khoảng 3km. Trên địa bàn phường có nhiều tuyến giao thông quan trọng, huyết mạch của quận và thành phố, bao gồm cả đường bộ ( như đường Lê Thánh tông, Lê Lai, Ngô Quyền, đường vòng Vạn Mỹ); đường sắt( vào các cảng Cửa Cấm…) và đường thủy ( sông Cấm).

Trải qua bao thăng trầm, phường Máy Chai đã có nhiều thay đổi để phù hợp với sự biến chuyển của lịch sử. Trước 1813, phường Máy Chai thuộc địa bàn xã Gia Viên, tổng Gia viên, huyện An Dương, phủ Kinh Môn, trấn Hải Dương. Xã Gia Viên được hình thức vào khoảng trước thể kỷ thứ 10, trước khi Ngô Quyền chọn đất này làm đại bản doanh đánh quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng ( 938). Đồng đất của Gia Viên khá rộng, sách " Tên làng xã Việt Nam" đầu thế kỷ XIX và sách " Đồng Khánh Địa dư chí lược" cuối thế kỷ XIX, đều chép 6 xã ở huyện An Dương là: Gia Viên, An Châu, Hạ Lý, Thượng Lý, Lạc Viên, An Trì ghép lại thành một tổng và cũng vẫn gọi tên là tổng Gia Viên.

Là một làng cổ bên sông Cấm, dân cư hội tụ sớm, từ xa xưa, vùng đất Gia Viên đã được coi là địa bàn giữ vị trí chiến lược trọng yếu ở cửa biển Bạch Đằng. Ngay từ những năm 40 – 43 ( thể ký I), dân làng Gia Viên đã theo nữ tướng Lê Chân, tham gia cùng Hai Bà trung đánh đuổi quân Đông Hán. Đầu thể kỷ X, dân làng Gia Viên đất làng Gia Viên được Ngô Quyền chọn đặt đồng binh chống quân Nam Hán. Tiếp đó, các triều đình phong kiến có chính sách khuyến khích nhân dân các nơi về sinh cơ, lập nghiệp, tạo lực lượng tại chỗ bảo vệ vùng Đông Bắc của  Tổ quốc, dân khắp nơi đến để Gia Viên ngày một đông. Bến Ninh Hải ở khu vực đất làng Gia Viên ngày một đông. Bến Ninh Hải ở khu vực đất làng Gia Viên dần trở thành một cơ sở buôn bán, trao đổi hàng hóa quan trọng. Nhiều tàu buôn từ phương Tây, Nhật Bản, Trung Quốc…..ra, vào kẻ Chợ, Phố Hiến đã dừng lại mua bán sản vật ở Gia Viên. Ngày 23-10-1873, uân Pháp chiếm vùng đất Ninh Hải. năm 1874, triều đình Huế ký Hòa ước Giáp Tuất, nhượng cho Pháp 2 hecta đất ở ngã ba Ninh Hải để đặt trụ sở lãnh sự, kho tàng và cho phép tự do ra vào buôn. Công cuộc đô thị hóa vùng Ninh Hải diễn ra ngày càng sôi động. năm 1874, Cảng được xây dựng và liên tục mở rộng. Các công sở, đường phố, dinh thự, trụ sở đại diện các hàng buôn… lần lượt được xây dựng. năm 1885, người Pháp cho đào mở rộng lạch Liêm Khê thành kênh Bonnan ( Bonnal), nối sống Tam Bạc với sông Cấm ( điểm cổng Cảng chính hiện nay) chia đôi đất thành phố thành khu phố Tây và khu phố người bản xứ. Đến năm 1887 xã Gia Viên ( đầu tổng) tách khỏi huyện An Dương và nhập với xã An Biên để lập khu nhượng địa. Ngày 19-7-1888, thành phố Hải Phòng được thành lập, xã Gia Viên nằm trong phạm vi thành phố Hải Phòng. Ngày 1-10-1888, thực dân Pháp đã buộc triều đình Huế phải nhượng cản khu nội đô, chủ yếu là địa bàn các ã An Biên, Gia Viên là một phần xã An Dương. Chính quyền thực dân chia nội đô thành hộ ( quartier), đặt chức hộ phố  ( chef quartier) giúp Đốc lý một số việc về hành chính dân sư. Ngày 31-10-1890, tổng Gia Viên đổi tên thành Lạc Viên, Máy Chai thuộc Đệ nhất hộ của thành phố Hải Phòng nhượng địa.

Cuối năm 1945, chính quyền cách mạng thành phố chia khu vực nội thành Hải Phòng thành 14 khu phố, Máy Chai thuộc khu phố số 12. Từ năm 1950 – 1951, ủy ban Kháng chiến Hành chính thành phố lập quận Ngô Quyền, Máy Chai thuộc quận Ngô Quyền. Tháng 2 năm 1956, ủy ban Hành chính thành phố tiến hành điều chỉnh địa giới, chia nội thành làm 13 khu phố ( Cầu Đất, Lạch Tray, Gia Viên, Trên Sông, Máy Nước, Nhà Thương, An Dương, Hàng Kênh, Dư Hàng); tháng 7-1957, ghép lại còn 7 khu phố, địa bàn phường Máy Chai hiện nay thuộc khu Gia- Lạc Viên.

Ngày 5-7-1961, Hội đồng Chính phủ ban hành Quyết định số 92/CP chia nội đô thành 3 khu phố Hồng Bàng, Ngô Quyền, Lê Chân. Theo quyết định này, khu phố là cấp chính quyền hoàn chỉnh trực thuộc thành phố. Khu phố quản lý các tiểu khu, có ban Đại diện giúp ủy ban Hành chính khu phố một số việc về hành chính, dân sự. Tiểu khu Máy Chai thuộc địa bàn khu phố Ngô Quyền.

Hiến pháp năm 1980 xác định hệ thống chính quyền 4 cấp. Ở nội thành có cấp chính quyền cơ sở là phường. Ngày 03-1-1981, Hội đồng Chính phủ ra Quyết định số 03/QĐ-Cp thành lập cấp quận và phường. Ngày 15-1-1981, ủy ban nhân dân thành phố ra Quyết định số 83/QĐ-UBND đổi tên các khu phố thành quận, các tiểu khu thành phường. Thực hiện Quyết định này, khu phố Ngô Quyền đổi thành quận Ngô Quyền, tiểu khu Máy Chai đổi thành phường Máy Chai, thuộc quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng.

Máy Chai nằm trong vung có kiểu thời tiết nhiệt đới ẩm, phân thành 2 mùa rõ rệt; mùa đông lạnh, ít mưa, kéo dài từ tháng 11 năm trước đến tháng 3 năm sau; mùa hạ nóng ẩm, mưa nhiều từ tháng 5 đến tháng 9. Nhiệt độ trung bình về mùa đông 15-200 C, mùa hè 30-35C. Bị khí hậu biển chi phối, ngoài các yếu tố thuận lợi cho sản xuất và đời sống, Máy Chai cũng chịu nhiều hậu quả do thiên tai, bão lụt, áp thấp nhiệt đới gây ra.

Nằm ở vị trí cửa ô của thành phố Hải phòng, Máy Chai có vai trò quan trọng trong việc đảm bảo  quốc phòng, an ninh, kết nối giao thương qua các cảng biển. Đi qua địa bàn phường có nhiều tuyến giao thông quan trọng, huyết mạch. Phố Lê Lai dài 1500m, tính từ điểm tiếp giáp đường Lê Lai đến đường Ngô Quyền. Lúc mới mở, phố Lê Lai được gọi là Đồn binh An Nam, vì lúc đó ở đây có 1 Đồn binh. Sau năm 1945 đổi là phố Tô Hiến Thành ( Lúc này phố chỉ tính từ đường Ngô Quyền đến ngã 3 Máy Tơ. Năm 1954 mới chính thức đổi tên thành phố Lê Lai. Phô được mở trong những năm đầu thế kỷ XX. Thời đó đường còn rải đá hai bên là ruộng là đầm ao. Dân cư hầu hết là người lao động nghèo khó. Thời Pháp thuộc, trên phố ngoài nhà máy cơ khí ComBen, thì không có một cơ sở kinh tế nào đáng kể, nay trên phố có nhiều kho hàng của trung ương, địa phương và một số xí nghiệp vận tải, chế biến.

Đường Ngô Quyền dài khoảng 4000m tính từ ngã 3 phố Lê Lai đến ngã 3 cảng Đoạn Xá ( đoạn thuộc địa bàn phường Máy Chai dài 1553m), vốn là đê quốc gia ở cuối hữu ngạn sông Cấm. Bản đồ thời Pháp thuộc ghi đường này là Ladigơ, do đó dân gọi chệch là đường " Lađich". Sau 1945, đổi gọi là đường Bạch Đằng. Từ 1954, mang tên đường Cửa Cấm với ý nghĩa đường đê sông Cấm hay gần cửa sông Cấm.  Ngày 21/4/1993, tên chính thức của toàn tuyền đường này là đường Ngô Quyền. Trước năm 1874, khu dân cư quanh khu vực này rất thưa thớt, một bên là rừng ngập mặn, một bên là đồng ruộng. Ở đầu đường, khu vực xưởng cơ khí Hạ Long hiện nay có một đồn binh nhỏ đó là đồn Ninh Hải.

Trong thời gian 1999 đến 2001, dự án đường 5 kéo dài ( 2A ) là đường Lê Thánh Tông được triển khai thực hiện. Đoạn đường Lê Thánh Tông chạy qua địa bàn phường Máy Chai dài khoảng 1387m. 15 hộ gia đình được giao đất để làm nhà ở nơi khác trong tổng số 195 hộ được bồi thường để di dời chỗ ở, phá rỡ công trình, vật kiến trúc, hoa màu và nhường lại cho việc mở rộng nâng cấp đường. Đây là tuyến giao thông quan trọng giành cho những xe ô tô có trọng tải lớn, cồng kềnh vào " ăn" hàng tại bên cảng. Vì vậy, việc thi công đường Lê Thánh Tông đã góp phần tôn tạo và nâng cấp bộ mặt đô thị của phường, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho các hoạt động đời sống hàng ngày của nhân dân địa phương.

Do có vị trí trọng yếu về quốc phòng, an ninh, lại ở ven đô nên ngoài đồn bốt, địa bàn phường Máy Chai trước đây có cả trại giam. Nhà tù máy chai ( hay còn gọi là Căng Máy Chai ) được thực dân Pháp xây dựng năm 1947, là nơi chúng giam giữ, đầy ải, giết hại các chiến sỹ cộng sản và những người yêu nước. Ngay cạnh 2 trại giam lớn, chúng cho xây dựng một ngôi chùa nhỏ, một nhà thờ nhỏ để kiêm việc cầu hồn cho những người lĩnh án tử hình. Cũng trong khuôn viên nhà tù cũ, một quán rượu bánh kẹo được lập ra để bán cho các cai tù,lính gác. Sau ngày giải phóng Hải Phòng 13/5/1955, cảnh quan tại khu vực Căng Máy Chai có nhiều thay đổi. Tư liệu ghi chép của cơ quan bảo tàng năm 1976 -1977 cho biết: " Hai căn nhà giam chuyển thành lò đúc và công trường xây dựng, nền xi măng của ngôi chùa nhà thờ nhỏ và căn nhà của tên chủ trại giam trông vẫn còn nền rất rõ ràng…" Hiện nay nơi đây đã trở thành nhà xưởng của công ty cổ phần bao bì rượu – bia – nước giải khát Hà Nội ( Nhà máy thủy tinh cũ ) thành phố đã cho dựng bia tưởng niệm trong khuôn viên của công ty- ngay trên mảnh đất đã chứng kiến bao tội ác của thực dân Pháp, nhằm góp phần giáo dục cho thế hệ sau truyền thống đấu tranh kiên cường, ý chí quật cường của các chiến sỹ cộng sản; đồng thời công nhận Căng Máy Chai là di tích lịch sử cách mạng cấp thành phố.

Máy Chai xưa thuộc địa bàn xã Gia Viên, tổng Gia Viên, huyện An Dương, phủ Kinh Môn trấn Hải Dương. Hầu hết cư dân ở đây sống bằng nghề làm ruộng, đánh bắt thủy hải sản, buôn bán sản vật làm ra. Trong làng có các dòng họ lớn ghi nhiều công trạng như : Nguyễn, Trần, Lê… Con em trong làng nhiều người học hành, đỗ đạt cao. Chợ Gia Viên là chợ lớn nhất huyện An Dương xưa. Trong chợ có đủ loại hàng hóa nông sản, đặc trưng của vùng đồng bằng ven biển. Làng Gia Viên năm trên trục giao thông thủy bộ thuận lợi, có bến Cấm ( sau là bến Ninh Hải) thuộc loại lớn, buôn bán tấp nập, sầm uất nhất tỉnh Đông. Nhiều thương nhân nước ngoài người Hoa, Nhật, Ấn Độ, Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Pháp : thường xuyên đến giao thương. Năm 1858, thực dân Pháp xâm chiếm Việt Nam, năm 1872 đánh chiếm vùng đất Ninh Hải. Quá trình đô thị hóa diễn ra mạnh mẽ làm cho Hải Phòng trở thành một trung tâm kinh tế - cảng biển lớn của Bắc Kỳ, cũng là nơi hội tụ dân cư. Từ cuối thế kỷ XIX, dòng người đổ về Hải Phòng tìm kiếm công ăn, việc làm ngày càng đông. Phần lớn trong số họ đến từ các tỉnh Hà Nam, Nam Đinh, Ninh Bình, Thái Bình, Hải Dương, Bắc Ninh, Kiến An…. Nghề nghiệp chủ yếu là làm phu, làm thợ, ở đợ , ăn mày, cấy lúa trồng rau… Bên cạnh tâng lớp nông dân nghèo, địa bàn Máy Chai xưa dần xuất hiện tần lớp thợ thuyền, đông nhất vẫn là thợ sắt trong các nhà máy : điện Cửa Cấm, máy Chai, máy Bát , máy Đèn , máy Sợi, ga xe lửa và phu khuân vác ở bến Sáu Kho. Hầu hết , họ đều sồng nghèo khổ trong các túp lều tranh siêu vẹo, tối tăm, ẩm thấp bị bóc lột nặng nề cả về vật chất lẫn tinh thần. Thời Pháp thuộc, địa bàn phường Máy Chai có nhà máy điện, nhà máy Ô-xi, nhà máy Chai… Ngày 1-2-1893, Hải Phòng bắt đầu có điện đường, trước cả thành phố Hà Nội. Sau tiếp quản, nhà máy Điện được duy tu, sửa chữa sử dụng. Đến chiến tranh phá hoại, nhiều lần máy bay Mỹ đánh phá ác liệt nhà máy. Do đó, ta phải đặt nhiều cụm máy phát điện Diazen bị đánh hỏng. Nhà máy Điện Cửa Cấm bỏ không dùng nữa, nay chỉ đặt 1 trạm điện. Nhà máy Chai của công ty sản xuất thủy tinh thuộc công ty Viễn Đông thành lập 1924, mỗi năm sản xuất 6000m2 kính và 80.000 chai, lọ. Trong chiến tranh, nhà máy bị phá hủy. Thời tạm chiến, nơi đây biến thành nhà tù giam cầm các chiến sỹ cách mạng, người yêu nước. Sau năm 1955 nhà máy Thủy Tinh được tu sửa lại.

Quá trình đô thị hóa diễn ra nhanh chóng từ cuối thế kỷ XIX, xong những biến đổi về kinh tế của Máy Chai không đáng kể. Chính sách nô dịch mà thực dân Pháp áp dụng để cai trị đã làm cho nền kinh tế Hải Phòng – Kiến An bị đình đốn nghiêm trọng, công nghiệp không phát triển, công nhân bị thất nghiệp, sản xuất thủ công ngừng trệ. Đời sống nhân dân lam lũ, nhọc nhằn, thiếu thốn mọi mặt, nhất là thanh niên và trẻ em không được học chữ… Cùng đó, suốt những năm tháng kháng chiến, nhằm triệt hạ cơ sở cách mạng, nhiều vùng bị địch cày sới, trơ chụi thành vành đai trắng, nhiều đồn bốt bom ke, dây thép gai chằng chịt.

Sau ngày Hải Phòng giải phóng, Ủy ban hành chính thành phố quan tâm xây dựng, phát triển công nghiệp ở Hải Phòng. Để nhanh chóng ổn định tình hình, các khu phố, tiểu khu tổ chức các đội dân phố, thanh niên làm xung kích, vận động toàn dân tổng vệ sinh tuần tra bảo vệ trật tự trị an. Tổ chức Đảng và quần chúng trong các nhà máy xí nghiệp chỉ đạo, vận động công nhân khôi phục lại máy móc, thiết bị tại các nhà máy Thủy Tinh, điện Cửa Cấm… để nhanh chóng đưa nhà máy đi vào hoạt động, sản xuất. Các cơ sở tiểu thủ công nghiệp, các ngành nghề truyền thống trên địa bàn được khuyến khích phát triển phong trào " tương thân tương ái – lá lành đùm lá rách", giúp đỡ những gia đình chính sách diễn ra sôi nổi. Những gia đình khá giả đã tự động đóng góp giúp đỡ những gia đình túng thiếu. Các đồng chí Đảng viên gương mẫu đi đầu thực hiện các nhiệm vụ chính trị của địa phương như Đoàn TN, hội viên giúp đỡ những gia đình nghèo, đói và đặc biệt chú ý những gia đình có công với Cách mạng, những người già không nơi nương tựa. Kết quả, nạn thiếu đói lần lượt đẩy lui, mọi người hồ hởi sản xuất và niền tin của nhân dân đối với Đảng ngày càng nâng cao. Trên lĩnh vực văn hóa – xã hội, giáo dục- y tế cũng có nhiều chuyển biến tích cực, nhân dân sôi nổi hưởng ứng phong trào vệ sinh phòng bệnh, văn hóa, văn nghệ, thể dục – thể thao, phong trào bình dân học vụ diễn ra sôi nổi, mọi người tranh thủ buổi chưa, buổi tối đến lớp học vần, học chữ, với một tinh thần quyết tâm cao. Máy Chai cơ bản đã thành công trong việc xóa mù chữ. Đó là thắng lợi bước đầu trong sự nghiệp xây dựng quê hương sau ngày giải phóng, chính quyền và nhân dân Máy Chai đã giành được. \

Sau ngày giải phóng miền Nam thống nhất đất nước 1975, nhân dân Máy Chai bắt tay vào khôi phục phát triển kinh tế- xã hội. Trong các nhà máy phong trào thi đua lao động được đẩy mạnh, đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân có nhiều chuyển biến. Y tế, giáo dục và các hoạt động văn nghệ thể thao được quan tâm đúng mức. Công tác bảo đảm an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội được chỉ đạo thực hiện khá tốt, ngăn chặn nhiều vụ việc, đảm bảo an toàn trong sản xuất, góp phần bảo vệ bình yên cuộc sống của nhân dân. Hệ thống đường xá, điện, nước… từng bước được cải tạo nắp đặt. Đường Lê Thánh Tông được cải tạo nâng cấp, 2 bên mặt đường nhà ở của dân và các trụ sở cơ quan xí nghiệp nhanh chóng mọc lên. Để đảm bảo điều kiện ăn ở, đi lại cho nhân dân từ năm 1999-2007 dư án thoát nước 1B ( Dự án cải tạo mương thoát nước Đông Bắc của thành phố ( mương Cầu Tre)) đã được triển khai. Đoạn mương chạy qua địa bàn phường Máy Chai dài khoảng 580m.

Phát triển đi lên cùng thành phố và đất nước, bộ mặt đô thị phường Máy Chai ngày một khang tranh, sạch đẹp. Phường hiện có 120 cơ quan, đơn vị hành chính sự nghiệp, nghiên cứu khoa học, cơ sở sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp đặt trụ sở trên địa bàn, trong đó có nhiều đơn vị trực thuộc trung ương và thành phố.